Trên con đường ghập ghềnh từ
Sapa qua Phong Thổ một đoàn
khách dừng chân nghỉ giữa con
đèo Ô Quý Hồ. Ðoàn hành khách
có mười hai người: một người đàn
bà và một người con gái bé ngồi
ghế đăng sơn, một người con trai
cưỡi ngựa, còn bao nhiêu là phu
khiêng ghế và tải đồ đạc.
Hỏi ra mới biết người đàn bà đó là
bà Tri Châu Phong Thổ, chồng vừa
ra đất ấy phóng nhậm được ít lâu
nay. Ðứa con gái bé là con bà,
người con trai là cháu bà. Ðoàn
phu để chiếc ghế đăng sơn ở chỗ
có bóng mát, rồi họ tản mác ngồi
mỗi người ở một gốc cây để nghỉ
chân dưỡng sức. Bà Tri Châu lúc
bấy giờ giở tráp trầu ra ăn một
miếng, trông bà có vẻ buồn rầu lo
lắng, nhưng vẻ lo buồn không làm
thế nào át được sắc đẹp dịu dàng
sắc sảo của bà. Bà ăn mặc cực kỳ
diễm dắn, nề nếp, không đeo lắm
vàng ngọc, không đánh phấn thoa
son; song càng ngắm bà càng
thấy có duyên, càng bị say đắm vì
đôi con mắt mơ mộng của bà, đôi
mắt đăm đăm nhìn vào quãng
chân trời xa thẳm.
Lúc ấy vào khoảng ba giờ chiều.
Bóng nắng xê xế, trên đường rừng
mát mẻ dễ chịu lắm. Người thiếu
nên đi ngựa buộc con vật đỡ chân
của chàng vào một góc cây, rồi đi
dạo quanh quẩn ngắm nhìn vẻ
đẹp lộng lầy tươi thắm của ngàn
nội. Tụi phu có vẻ mệt nhọc, vì họ
đã tất tưởi cả ngày rồi, ai ai cũng
nhân dịp lúc dừng chân mà quạt
mồ hôi, và nghỉ ngơi cho lại sức.
Họ để các rương hòm rải rác dọc
đường, núi, rồi ngồi phanh ngực
ra mà quạt, có người thì dựa vào
gốc cây, vách đá mà lim dim ngủ,
chả ai để ý đến chiếc đăng sơn để
ngay sát rìa núi trước mặt bãi sậy
rườm rà.
Bỗng đâu, một tiếng la to làm cho
mọi người hoảng hốt đứng cả dậy,
rồi đến tiếng khóc, rồi đến một lời
kêu the thé vang lừng trong rừng
sậy đưa ra:
– Cháu Tiêu ơi! Cháu nhớ lấy lời cô
đó.
Xong, im bặt. Cả đoàn ùa lại mé
đăng sơn. Cô bé con nằm chết
ngất, ngẹo đầu dựa vào thành
ghế, còn bà Tri Châu thì đã biến
đi tự lúc nào rồi. Dưới đất, ngay
chỗ đăng sơn, có vết bốn cái vuốt
in sâu xuống cát. Ðoàn phu nhận
ra đó là dấu chân hổ. Thì ra bà Tri
Châu đã bị hổ cắp tha đi.
Bà Tri Châu đó là Oanh Cơ. Ngày
nay, theo đúng nghiệp số của
nàng, nàng phải theo hai anh chị
chết dưới vuốt thiêng của loài
mãnh thú. Con hổ này rình nàng
từ lâu lắm, nó định bắt nàng đi đã
mấy năm nay rồi! Bởi gì chưa có
dịp nào nên nó đành phải đợi sau
khi bắt hụt nàng một phen ở mé
Ðồng Giao. Tra khảo anh chị nàng,
nó biết nàng tất phải qua đèo Ô
Quý Hồ vì theo chồng ra Phong
Thổ. Nó phục trong bụi lau đợi
nàng ở đó. Ngày giờ nàng đã đến,
số kiếp nàng đã tận, nàng đã bị nó
nhảy ra ngặm chặt lấy lôi đi, giữa
khi cháu nàng và các phu khiêng
đều vô ý mỗi người chăm chú vào
việc riêng của mình.
Ðời Oanh Cơ thế là đoạn tuyệt;
nàng vừa ra khỏi kịch trường mà
nàng đã đóng một vai đào thương
hết sức bi ai. Nhưng kỷ niệm của
nàng mãi mãi vẫn không bị lu mờ
trong lớp bể dâu; hình bóng nàng
còn sống trong tâm hồn con nàng
và cháu nàng.
Trước khi nhắm mắt lìa đời, nàng
đã tìm ra được một bí mật: là
chồng cũ nàng, Lê Trọng Việt
không phải bị các quan tòa lầm
lẫn bắt buộc vào tội chết, mà
chính là kẻ thù đã thêu dệt đã bịa
đặt ra nhiều chuyện để xui giục
quan tòa hạ bút phê án tử hình.
Kẻ thù ấy, độc địa thay lại là thầy
Thông, người đã cùng nàng giá
nghĩa sau này. Cậu Lê Trọng Việt
chết được hơn một năm, nàng
nghe lời đường mật của thầy cùng
thầy kết bạn tâm giao. Sau khi về
nhà thầy được ba năm thì thầy bổ
đi Bắc Cạn, rồi được 2 năm nữa
thầy thăng Tri Châu, lên phó
nhậm ở Phong Thổ. Trong khi
chung chạ, nàng nhận ra thầy
Thông là người gian trá xảo quyệt,
chỉ có vẻ ngoài niềm nở lịch sự,
mà thực tình trong lòng chứa đầy
các kế độc, mưu sâu, nàng nhận
được rằng thầy là kẻ tham lam
bôn tẩu, tìm cách hại nhân thắng
kỷ, một là để ăn tiền cho giàu có,
hai là để chóng cao thăng. Thầy
đã làm cho bao nhiêu gia đình tan
nát, bao nhiêu nhân vật điêu linh,
thế mà không tỏ vẻ gì hối hận cả,
lại còn đắc ý là đằng khác. Những
giờ phút chăn gối, nàng cố ý gợi
lại chuyện chồng cũ, than vãn sao
kẻ kia vô tội mà đến nỗi bị quan
trên ghép vào tội tử hình. Nghe
nàng căn vặn thầy Thông cứ ầm ừ
không trả lời; mãi lâu lắm, lâu
lắm, một đêm mà trời đất lạnh
lùng buồn tẻ, một đêm mà hoàn
cảnh như gợi lòng người, thầy
Thông mới khe khẽ rỉ tai nàng
bằng một giọng trầm trầm, ngần
ngại:
– Sở dĩ tôi yêu mợ quá, nên buộc
lòng phải làm như thế! Ðáng lý ra,
anh em họ Lê không đến nỗi chết,
chỉ phải tù tội mà thôi; tôi có nói
thêm vào nên họ mới bị xử trảm.
Song ngẫm ra đến ái tình là hết,
tôi có ý thương mợ, nên mới gây
ra tội ác ấy; không thì làm sao có
ngày nay?
Từ khi nghe lời thú nhận của thầy
Thông. Oanh Cơ coi thầy như con
vật dữ, ngoài mặt nàng không lộ
ra vẻ gì giận dỗi căm tức cả,
nhưng trong lòng nàng chứa chất
một khối oán hận tầy đình. Nàng
oán thầy khẩu phật tâm xà, làm
hại người ngay thẳng để quyến rũ
vợ người ta mà vẫn nhởn nhơ vui
vẻ, hình như không coi việc ác của
mình là một sự xấu xa. Nàng trót
đã lấy thầy, không lẽ giết thầy để
rửa hận cho người đã thác; vả có
giết thầy chăng nữa, cũng không
đủ trả thù rửa oán; tội thầy đáng
phải hình phạt thế nào cho thầy
sống cũng như chết, ăn mất ngon,
ngủ mất yên, đêm ngày tâm trí lo
sợ, hối hận, hai mắt dở mù dở
sáng, để thấy những cảnh mất
đầu đổ máu tự tay thầy đã gây
nên. Như thế, may ra mới xứng
đáng. Nàng muốn tìm kế báo thù
như thế, nhưng thời gian thấm
thoát, nàng chưa tìm được kế gì.
Có lắm lúc mối oán hận trong
lòng như sóng nước chơi vơi, trần
lên tới cổ, nàng muốn chém thầy
ngay, đầu độc thầy ngay, song
chợt nghĩ đến đứa con gái còn
thơ, nàng lại nén dằn, giả bộ ra vẻ
đềm đạm như thường, khiến thầy
không nghi ngờ gì hết.
Ðể biết rõ ngày xưa thầy hành
động thế nào, Oanh Cơ lần về
Nam Ðịnh, đến tòa xứ, hỏi những
người bạn của thầy Thông, nhờ họ
cho xem tập hồ sơ của cái án cũ
Lê Trọng Việt. Xem tập án ấy nàng
mới hay lá đơn khiếu nại thầy đã
làm hộ cho mẹ con nàng đại ý
như sau:
“Chúng tôi là Bùi Thị Lan, vợ góa
của quan nguyên Lãnh binh Lê
văn Khúc, và Nguyễn Oan Cơ,
nàng dâu thứ hai của vị cựu quan
ấy, cúi đầu thành khẩn kính xin
các Quan Tòa đèn trời soi xét
trông lại cho chúng con nhờ.
Nguyên hai tên Lê Mạnh Khôi và
Lê Trọng Việt tức là con, anh
chồng và chồng chúng con, gần
đây lại can phạm vào vụ cướp ở
Làng Ngọc Chính Hạ. Tên đầu
đảng bọn cướp đó là Nguyễn
Quán, có rủ rê người nhà chúng
con làm việc phạm pháp; người
nhà chúng con trót dại giúp đỡ
quan phản nghịch, nhưng cúi xin
các quan thương cho mà đừng bắt
tội, bởi lẽ, nếu hai anh em Khôi và
Việt bị tội, thì họ Lê chúng con sẽ
tuyệt tự. Khôi và Việt còn mẹ già
năm nay đã ngoài 50 lại có vợ dại
con thơ, không biết nương tựa
vào đâu, tình cảnh thực là bi
thiết, cúi xin các quan mở lượng
hải hà, hết sức che chở bao dung
cho, chúng con sẽ ngậm vành kết
cỏ, đội ơn các quan lớn vạn bội.”
Một lá đơn như thế, có bao giờ
hai mẹ con nàng Oanh chịu ký tên
ở dưới, nếu thầy Thông không đọc
trái đi một cách khác, bảo rằng
hai cậu ấm Lê không từng vào phe
với đảng cướp bao giờ. Cứ theo lá
đơn này, thì rõ ràng là, nàng Oanh
Cơ và mẹ chồng nàng đã nhận
rằng hai cậu ấm có đi ăn cướp
thật, và kêu xin quan tòa ra tay tế
độ, mở đường hiếu sinh cho.
Nàng Oanh xem đến đấy, khí giận
bốc lên ngùn ngụt nàng phải rút
khăn lau mồ hôi trán đến bốn
năm lần. Nàng lại giở xem nữa.
Ðến đoạn lấy khẩu cung, của anh
em Khôni, Việt mà chính thầy
Thông hồi ấy đã dịch cho các quan
tòa nghe, như sau này:
“Chúng tôi vì có điều tức giận nên
đi theo đảng cướp. Nay đã làm
nên tội, chúng tôi không hối hận
gì cả!”
Trời ơi! Có lẽ nào anh chồng và
chồng nàng lại điên cuồng ngộ dại
mà khai như vậy? Thực tình họ có
đi theo đảng cướp bao giờ! Con
người độc địa sâu cay làm sao!
Thế mà ngoài mặt vẫn đạo mạo
nghiêm trang, ai nào dám bảo là
một kẻ giết người không đao
kiếm.
Sau khi ở Nam Ðịnh về Oanh Cơ
viện hết lẽ này đến lẽ khác, không
hề chung chạ gối chăn với thầy
Thông nữa. Cho mãi tới ngày thầy
được giấy quan trên cho thăng
chức Tri Châu, và bổ đi Phong
Thổ. Thầy đi trước, chỉ đem một ít
hành lý, dặn nàng ở lại Bắc Cạn
rồi đem người nhà và đồ đạc theo
sau. Trước khi lên đường, không
hiểu tại sao nàng cảm thấy một
sự gì buồn buồn khó tả, tựa hồ
báo trước cho nàng biết, nàng sắp
gặp những tai nạn bất ngờ. Rửa
mặt, nàng ngửi thấy nước có mùi
tanh; ra cửa nàng bị vấp suýt ngã;
rồi lại có con chó vàng đến kéo áo
như muốn lôi nàng trở lại… Thực
là những điềm quái dị vô cùng.
Nàng bèn thảo một phong thư di
chúc trao cho cháu Nguyễn Tiêu;
đoạn, nàng bày tỏ nỗi oán hận
của mình cho cháu rõ và bảo
chàng rằng:
– Cháu chịu khó giữ lấy thư này
cho kín đáo cẩn thận lắm mới
được! Khi nào em Quyên (con gái
nàng) đýng 18 tuổi, bấy giờ cháu
mới kể lại sự tích cha nó thế nào
cho nó nghe. Và cháu sẽ bảo nó
theo đúng lời cô mà báo thù. Báo
thế nào cho kẻ kia phải điêu linh,
khổ sở, còn cũng như mất chớ
đừng giết hại nó làm gì! Bởi giết
nó, tức là gia ân cho nó đấy. Ði
chuyến này, cô cảm thấy mệnh số
cô hình như sắp hết; cô cháu ta
sẽ cùng nhau vĩnh quyết nay mai.
Trên đời này, cô không còn ai họ
hàng thân thích cả, chỉ có cháu và
em Quyên. Cô thường vẫn thương
cháu như con, vậy một mai cô có
mệnh hệ nào, cháu sẽ nghĩ tình
tận lực giúp em cho nó trả được
thù ấy. Ðó là cháu đáp nghĩa cho
cô đấy!
Nỗi lo ngại của nàng Oanh Cơ quả
nhiên thành sự thật. Nàng bỏ con
thơ cháu bé ở lại với cuộc đời tàn
ác, để một mình lánh sang cõi thế
bên kia.
Câu chuyện sự tích nàng Oanh đến
đây là dứt.
Từ ngày nàng bị hổ tha vào rừng,
thì cứ những đêm mưa gió bấc,
những đêm u ám không trăng,
trên quãng đèo Ô Quý Hồ lại văng
vẳng có giọng đờn ca não ruột, ai
bạo gan xông xáo trong đêm
khuya rừng vắng, thì thấy ba cái
bóng ma ngồi đàn hát cho một
con cọp lớn ngồi nghe. Quái trạng
đó hiện chán ở đèo Quý Hồ thì lại
quay về hiện ở Ðồng Giao. Ở đây,
cũng như ở kia, chỉ là do một gốc
tích mà xảy ra tình trạng ghê rợn
ấy. Nàng Oanh thác rồi, 15 năm
sau, con gái nàng mới thay nàng
báo thù cho cha là Lê Trọng Việt.
Câu chuyện báo thù ấy, lại là một
vấn đề khác, nó dài dòng lắm, và
nó ly kỳ rùng rợn chẳng kém gì
câu chuyện của Oanh Cơ. Con
người độc nhất vô nhị được rõ
nguồn gốc và kết quả sự báo thù
ấy là tôi, bởi lẽ tình cờ và duyên
số đã khiến tôi đóng một vai thụ
động trong tấn kịch thương tâm
chua xót ấy. Mà cũng vì có chân
trong kịch, nên tâm tôi bị đeo
một vết đau đớn thấm thía đến
nay quá bốn mươi tuổi rồi, cũng
vẫn chưa nguôi… Nhưng mà… Mai
kia khi đến Sapa, trong những giờ
phút rãnh rỗi tôi sẽ dần dần thuật
lại để ông thưởng thức!…
Cụ Trần Công Chất nói đến đây,
ngừng lại, tôi nhìn qua cửa sổ
trong phòng thấy áng sáng mờ
mờ đang xuyên qua luồng kính…
Viết xong tại phố Nghĩa Ðịa Tây,
ngày mùng bảy tháng tư năm
Canh Thìn, tức là ngày 23-5-1940
âm lịch.

 

Truyện khác cùng thể loại: